Theo thông tin từ Bộ Tài chính, tổng số Hiệp định thương mại tự do Việt Nam đã tham gia và đang đàm phán là 20 Hiệp định, trong đó 12 Hiệp định đang thực thi, 02 Hiệp định có hiệu lực trong năm 2019, 02 Hiệp định đã ký kết nhưng chưa có hiệu lực, 03 hiệp định đang đàm phán, Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đã kết thúc đàm phán lời văn của 20 Chương và kết thúc cơ bản các vấn đề mở cửa thị trường (trừ Ấn Độ).
Tình hình thực thi 12 Hiệp định thương mại tự do của Việt Nam
Theo Bộ Tài chính, 12 Hiệp định thương mại tự do đang thực thi tại Việt Nam gồm: Hiệp định ASEAN, ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Hàn Quốc, ASEAN – Úc – Niu Di-lân, ASEAN – Ấn Độ, ASEAN – Nhật Bản, Việt Nam – Nhật Bản, Việt Nam – Chi-lê, Việt Nam – Hàn Quốc, Việt Nam – Lào, Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á-Âu, và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), 02 Hiệp định có hiệu lực trong năm 2019 (Việt Nam – Cam-pu-chia, ASEAN – Hồng Công, Trung Quốc), 02 hiệp định đã ký kết nhưng chưa có hiệu lực (Việt Nam – EU, Việt Nam – Cuba), Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đã kết thúc đàm phán lời văn của 20 Chương và kết thúc cơ bản các vấn đề mở cửa thị trường (trừ Ấn Độ), và 03 hiệp định đang đàm phán (bao gồm Việt Nam – I-xra-en, Việt Nam – EFTA, và Việt Nam – Anh).
Đến nay, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành 12 Nghị định về các Biểu thuế ưu đãi cho các đối tác trong 12 Hiệp định này cho giai đoạn 2018 – 2022/2023. Riêng CPTPP là giai đoạn 2019 – 2022, và Việt Nam – Lào giai đoạn từ 01/9/2016 đến 03/10/2020. Tuy nhiên, Nghị định Biểu thuế Việt Nam – Lào đang thực hiện theo Danh mục Biểu thuế hài hòa ASEAN phiên bản 2012 (AHTN 2012).
Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN đã hoàn thành lộ trình cắt giảm thuế vào năm 2018.
Các Hiệp định đang tiến gần tới năm hoàn thành lộ trình xóa bỏ thuế gồm ASEAN – Trung Quốc (năm 2020), ASEAN – Hàn Quốc (năm 2021), ASEAN – Úc – Niu Di-lân (năm 2022) đạt tỷ lệ tự do hóa cao, khoảng 90% vào năm 2019. Cùng kết thúc lộ trình vào năm 2029, tỷ lệ tự do hóa năm 2019 của Việt Nam trong FTA Việt Nam – Hàn Quốc đã đạt 85,63%, trong khi tỷ lệ này trong FTA Việt Nam – Chi-lê mới chỉ đạt 31,73%. Còn lại, các Hiệp định đạt tỷ lệ tự do hóa trung bình khoảng 60% trong năm 2019 như ASEAN – Nhật Bản, ASEAN – Ấn Độ, Việt Nam – Nhật Bản, Việt Nam – Chi-lê, Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á-Âu.

Trong số 12 Hiệp định đang thực hiện, CPTPP là Hiệp định mới nhất được thực thi của Việt Nam. Ngày 26/6/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2019/NĐ-CP về Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định CPTPP giai đoạn từ ngày 14/01/2019 đến hết ngày 31/12/2022.
Về cam kết thuế xuất khẩu trong Hiệp định CPTPP, Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế xuất khẩu đối với phần lớn các mặt hàng hiện đang áp dụng thuế xuất khẩu, cơ bản theo lộ trình từ 5-15 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực. Một số nhóm mặt hàng quan trọng (như than đá, than non, dầu thô, vàng,…) được tiếp tục duy trì thuế xuất khẩu.

Về cam kết thuế nhập khẩu trong Hiệp định CPTPP, Việt Nam cam kết xóa bỏ gần 100% số dòng thuế, theo đó (65,8% số dòng thuế có thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực; 86,5% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 4 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực; 97,8% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 11 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực; Các mặt hàng còn lại cam kết xoá bỏ thuế nhập khẩu với lộ trình xóa bỏ thuế tối đa vào năm thứ 16 hoặc theo hạn ngạch thuế quan.
Ngoài cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu theo lộ trình, Việt Nam và các nước thành viên CPTPP cam kết miễn thuế đối với các trường hợp như: hàng hóa tái nhập khẩu sau khi được sửa chữa hoặc thay thế; hàng tạm nhập khẩu để sửa chữa hoặc thay thế mà không thay đổi đặc tính cơ bản của sản phẩm; hàng mẫu thương mại có giá trị không đáng kể và ấn phẩm quảng cáo; hàng tạm nhập là các thiết bị chuyên ngành… container bất kể xuất xứ từ đâu, đang hoặc sẽ được dùng để vận chuyển hàng hóa trong giao thông quốc tế. Các giao dịch điện tử, bao gồm các nội dung được truyền đưa bằng phương thức điện tử cũng được miễn thuế nhập khẩu.
Tình hình thực thi 04 Hiệp định thương mại tự do đã ký kết hoặc có hiệu lực trong năm 2019 (trừ CPTPP)
Trong năm 2019, tổng số Hiệp định thương mại đã ký kết của Việt Nam (trừ CPTPP) là 04 Hiệp định, bao gồm: Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu EU (EVFTA), Hiệp định Thương mại hàng hóa giữa ASEAN và Hồng Công (Trung Quốc) (AHKFTA), Hiệp định Thương mại Việt Nam – Cu-ba, và Bản thỏa thuận thúc đẩy thương mại song phương giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Cam-pu-chia.
– Đối với Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên Minh châu Âu EU (EVFTA), sau khi được chính thức ký kết ngày 30/6/2019, Hiệp định EVFTA sẽ được trình lên Quốc hội Việt Nam và Nghị viện EU để tiến hành thủ tục phê chuẩn để có hiệu lực thực thi (dự kiến trong nửa đầu năm 2020).
Về Biểu thuế nhập khẩu của Việt Nam, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay khi Hiệp định có hiệu lực với 48,5% số dòng thuế, tương đương 64,5% kim ngạch nhập khẩu từ EU, và sau 10 năm là khoảng 99% số dòng thuế, tương đương 99,8% kim ngạch nhập khẩu từ EU. Đối với số dòng thuế còn lại, Việt Nam sẽ có lộ trình trên 10 năm hoặc dành ưu đãi cho EU trên cơ sở hạn ngạch thuế quan của WTO.
Lộ trình cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với một số nhóm mặt hàng chính của Việt Nam như sau: ô tô (sau 9 năm đối với ô tô phân khối lớn (trên 3000cc cho động cơ xăng và trên 2500 cc cho động cơ diesel) và 10 năm đối với các loại ô tô còn lại); linh kiện, phụ tùng ô tô (tối đa 7 năm); hóa chất (tối đa 7 năm); đồ uống có cồn (tối đa 10 năm); thịt bò (3 năm), thịt lợn đông lạnh (7 năm), thịt gà (10 năm); sữa và sản phẩm sữa (3-5 năm); cá và các sản phẩm cá (3-7 năm); thuốc lá, xì gà (15 năm); máy móc thiết bị (tối đa 7 năm);…
Về cam kết thuế xuất khẩu của Việt Nam, Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế xuất khẩu với hàng hóa xuất khẩu sang EU với lộ trình lên đến 15 năm, trừ những mặt hàng được duy trì thuế xuất khẩu tập trung vào một số nhóm hàng quan trọng như dầu thô, than đá (trừ than để luyện cốc và than cốc),… Cam kết về thuế xuất khẩu trong Hiệp định EVFTA cơ bản tương tự như cam kết về thuế xuất khẩu của Việt Nam trong Hiệp định CPTPP.
– Đối với Hiệp định Hiệp định thương mại hàng hóa giữa ASEAN và Hồng Công (Trung Quốc) AHKFTA, hiện nay, Bộ Tài chính đang trình Chính phủ ký ban hành Nghị định về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại hàng hoá giữa ASEAN và Hồng Công (Trung Quốc) giai đoạn 2019-2022. Mức thuế suất AHKFTA được xây dựng trên nguyên tắc tuân thủ cam kết theo lộ trình cắt giảm thuế quan của Việt Nam quy định tại Hiệp định AHKFTA.
Về tổng thể, Biểu thuế AHKFTA theo Danh mục biểu thuế hài hoà ASEAN năm 2017 (AHTN 2017) giai đoạn 2019 – 2022 gồm 10.856 dòng thuế, trong đó gồm 10.775 dòng thuế theo cấp độ 8 số và 81 dòng thuế được chi tiết theo cấp độ 10 số (từ 38 dòng cấp độ 8 số). Lộ trình cắt giảm thuế quan trong biểu thuế ban hành được áp dụng cho 4 giai đoạn theo từng năm, từ năm 2019 – 2022. Sau khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ khoảng 72% số dòng thuế của Biểu thuế AHKFTA (tương ứng 7.818 dòng thuế). Danh mục cam kết theo kết cấu Biểu thuế AHKFTA giai đoạn 2019 -2022, ngoài 7.818 dòng thuế xoá bỏ, có 457 dòng thuế nhạy cảm (chiếm 4,2% số dòng thuế); 536 dòng thuế nhạy cảm cao (chiếm 4,94%); 2.045 dòng thuế không cam kết (chiếm 18,84%)…
– Đối với Hiệp định thương mại giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Cuba đã được ký kết vào ngày 09/11/2018 sau hai năm đàm phán (kể từ tháng 4/2016). Hiệp định này thay thế Hiệp định giữa hai Chính phủ về trao đổi thương mại và các hình thức hợp tác kinh tế khác được ký vào 8/4/1996. Hiện nay, Bộ Công Thương đang chủ trì triển khai các thủ tục phê duyệt Hiệp định này, dự kiến Hiệp định có hiệu lực từ cuối năm 2019.
Thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt Việt Nam – Cu-ba được xây dựng trên nguyên tắc tuân thủ cam kết theo Lộ trình cắt giảm thuế quan của Việt Nam quy định tại Hiệp định Thương mại hàng hoá giữa Việt Nam và Cuba. Về tổng thể, Biểu thuế theo AHTN 2017 giai đoạn 2019-2022 gồm 563 dòng thuế chi tiết theo cấp độ 8 số. Lộ trình cắt giảm thuế quan trong Biểu thuế dự kiến ban hành kèm theo dự thảo Nghị định Bộ Tài chính đang xây dựng để chuẩn bị triển khai sau khi thời điểm có hiệu lực của Hiệp định được xác định sẽ được áp dụng cho 04 giai đoạn: (i) từ khi Hiệp định có hiệu lực đến 31/12/2019; (ii) từ 1/1/2020 đến 31/12/2020; (iii) từ 1/1/2021 đến 31/12/2021; và (iv) Từ 1/1/2022 đến 31/12/2022.
– Bản Thỏa thuận thúc đẩy thương mại song phương giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Cam-pu-chia giai đoạn 2019-2020 đã được ký ngày 26/2/2019 và có hiệu lực kể từ ngày ký.
Để triển khai cam kết tại Thỏa thuận, Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 92/2019/NĐ-CP ngày 20/11/2019 về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt để thực hiện Thỏa thuận giai đoạn 2019 – 2020. Theo cam kết tại Bản Thỏa thuận 2019-2020, biểu thuế của Bản Thỏa thuận 2019-2020 đã được rút gọn xuống còn 32 mã hàng được hưởng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt 0%, so với 39 mã hàng như trong Bản Thỏa thuận 2016. Các mã hàng được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt trong khuôn khổ Bản Thỏa thuận này bao gồm một số mã hàng: lá thuốc lá, lúa gạo, thịt, gia cầm, chanh, bánh mì.
Tác động của việc cắt giảm thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong thực thi cam kết tại các Hiệp định Thương mại tự do
Theo Tổng cục Hải quan, số thu thuế nhập khẩu những năm gần đây vẫn tăng lên nhưng tỷ trọng trong thu ngân sách lại giảm.
Cụ thể, tỷ trọng thu ngân sách nhà nước từ hoạt động xuất nhập khẩu (bao gồm cả thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế chống bán phá giá, thuế tiêu thụ đặc biệt…) trên tổng thu ngân sách nhà nước có xu hướng giảm do thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt ngày càng vào lộ trình cắt giảm sâu. Nếu như năm 2017 chiếm 28%/ tổng thu NSNN của Tổng cục Hải quan thì năm 2018 còn 17,4%, năm 2019 chỉ còn 16,7%.
Tuy vậy, dù tỷ trọng thuế nhập khẩu giảm nhưng phần thu nội địa có gia tăng hàng năm nhờ thực hiện các biện pháp điều hành chính sách phù hợp. Thu nội địa chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu NSNN. Cụ thể: Giai đoạn 2001-2010 bình quân đạt 55,2%, giai đoạn 2016-2018 bình quân đạt 74,8% (trong đó năm 2018 là 80,6%, dự kiến đến năm 2020 đạt khoảng 84%) .
Mặc dù xu hướng giảm thu ngân sách do tác động từ việc thực hiện cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu của Việt Nam trong các FTA là không tránh khỏi nhưng với các biện pháp điều hành chính sách liên quan đến thuế nội địa một cách hợp lý và hoạt động xuất nhập khẩu tăng trưởng tốt, nguồn thu ngân sách nhà nước vẫn phát triển. So với năm 2017, thu ngân sách của nhà nước năm 2018 đạt 314,4 nghìn tỷ đồng (tăng 5,82%). Dự kiến năm 2019 số thu sẽ đạt 335 nghìn tỷ (tăng 6,57%).
Bên cạnh đó, việc sửa đổi các luật để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh cũng như cải cách, hiện đại hóa cơ quan thuế, cơ quan hải quan, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động, giảm số giờ làm thủ tục hành chính, tiết kiệm chi phí. Đồng thời, cơ quan hải quan kiểm soát chặt chẽ điều kiện để hàng hóa nhập khẩu được hưởng thuế ưu đãi đặ biệt trong các FTA…cũng là những giải pháp nhằm hạn chế tác động của việc cắt giảm thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong thực thi cam kết của Việt Nam tại các Hiệp định Thương mại tự do.




